Bài giới thiệu sơ lược về Trường Tiểu học Lý Nhơn - xã An Thới Đông
Tuoi tre Hoang Vann Thu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thanh Thới
Ngày gửi: 15h:24' 02-10-2025
Dung lượng: 869.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thanh Thới
Ngày gửi: 15h:24' 02-10-2025
Dung lượng: 869.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
TUỔI TRẺ HOÀNG VĂN THỤ
Tiểu thuyết
(In lần thứ hai)
Tác giả: TÔ HOÀI
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN HÀ NỘI - 2004
Thực hiện ebook: hoi_ls
(www.e-thuvien.com)
Epub (2020): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
MỞ ĐẦU
Nửa đêm kia, có một người Nùng ở một xóm khuất bên dốc Keng Vài
bỗng thức giấc.
Rõ ràng, trong bóng tối mà mắt trông thấy được, cuồn cuộn thành luồng
luồn qua những khe tường đất bên nách cửa, có một mùi ấm và thơm lạ
lùng. Chẳng mấy chốc mùi thơm đã đầy nhà, nồng nàn đến tận chân tóc.
Người ấy lẩm nhẩm một mình:
– Đến mùa hái hồi rồi.
Thằng con nằm cạnh bố cũng ngồi nhỏm dậy. Nó hỏi:
– Bố sắp phải đi trèo hồi, bốn hỉ?
Bố nói:
– Mai đi sớm thôi. Trèo hồi còn kịp lấy cái Tết r tháng bẩy này về cho
mày.
Thằng bé ngẩn ngơ reo lên:
– Sướng lắm nhỉ?
Buổi sáng, tất cả mọi người đều đổ ra đường. Ai cũng đứng ngửng lên
cho thấy mùi hồi chín chảy qua mặt. Rừng hồi ngào ngạt xanh thẫm trên
các quả đồi quanh làng. Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi, từ các cánh đồng
Thất Khê, lùa lên những hang đá Văn Uyên, Thoát Lãng trên biên giới
xuống Cao Lộc, Chi Lăng, qua những vùng hồi mà một mảnh lá gãy cũng
dậy mùi thơm, gió càng thơm ngát. Sông Kỳ Cùng đã nhạt hết màu đục đỏ
bối rối suốt mùa lũ, bây giờ con sông ủ mùi thơm trong vắt lượn, quanh co
khắp đất Lạng Sơn vào mùa hồi chín.
Lại đến mùa hái hồi!
Có những ông già người Nùng Cháo, đến mùa thì theo mùi hồi chín đi
bán rượu. Người vác chảo, đội đõ, người đeo hũ. Ngả chảo rồi bệ cái đõ
https://thuviensach.vn
lên, bán rượu nóng cho người hái hồi, ngay đầu rừng.
Và cứ khi mùi hồi chín lại thấy cơ man người đi trèo hồi, hái thuê. Người
Nùng ở biên giới vào, người Tày lặn lội trong các vùng khe dọc ra, người
Kinh ở Đồng Mỏ, ở Hữu Lũng lên. Họ đi thành từng bọn. Nắng lên, toả ra,
cái nắng tháng bảy rưng rưng ở các đầu rừng lao xao tiếng người đánh xe
ngựa chở hồi cho lái buôn.
Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, gãy gọn hơn cả cành khế.
Quả hồi, phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành. Người trèo hồi hay bị ngã lúc
với tay ra hái. Người ngã hồi rơi thẳng xuống gốc, đành què gẫy mà chết,
không đỡ được. Bởi vậy, người đi trèo hồi thuê thường thèm ngụm rượu
cho dễ liều hơn.
Người trèo hồi ấy đã đứng ra trước cửa. Cái túi chàm lép đựng nắm cơm.
Chiếc xe ngựa tải hồi của lái buôn đủng đỉnh qua. ;i trèo hồi, cứ thế nhảy
trộm lên sau xe, ngồi tựa lưng vào một đống bao bì cao ngất.
Con ngựa sục mõm vào giỏ cổ rồi hắt hơi, lắc mũi mấy cái. Chẳng biết
bực mình hay mừng rỡ, con ngựa lại cất chân chạy đổi nước. Người đánh
xe gò cương lại. Nhưng cũng không biết sau lưng xe có đã thêm mấy người
trèo hồi đi nhờ.
Chỉ có lũ trẻ con trong xóm trông thấy. Chúng reo ầm lên. Chúng sung
sướng ước được trèo lên, mặc cho chiếc xe có mùi hồi thơm muốn đưa đi
xa những đâu thì đi.
Thằng con kiễng chân, nói như thét:
– Bố đi lấy cái Tết tháng bảy về... lấy về...
Nó cũng đương nghĩ cái xe ngựa đi đến những nơi sung sướng lấy cái
Tết tháng bảy về, như những đứa trẻ khác. Những cái xe tải hồi đã đi xa.
Nắng nhạt tháng bảy đọng lại, các khe, các hang rỗng trong lòng núi cũng
ẩm ướt mùi hồi.
***
Lại nghe đằng kia nhong nhong tiếng ngựa. Từ nửa đêm đã nhộn nhịp xe
ngựa, xe trâu của lái buôn về qua.
https://thuviensach.vn
Nhưng đây là ngựa đeo nhạc. Nghe tiếng nhạc xoang xoảng thì người
trong làng biết đấy là ngựa quan châu. Và tiếng ngựa quan châu thì không
kể mùa hồi hay mùa lúa. Quan đi tuần. Quan đi bắt phu làm đường, xẻ núi
hầm xe lửa. Quanh năm.
Bọn lính khố lục đeo súng dài, một tay ôm băng đạn vừa chạy vừa kêu
qua trước cửa:
– Đường Tà Lài! Đường Tà Lài
Thế là ai cũng lại biết quan và lính đi các làng bắt phu lên biên giới làm
đường hầm xe lửa ở Tà Lài.
Lính đẩy cửa vào nhà người trèo hồi.
Nhưng người ấy đã trèo lên lưng cái xe ngựa tải hồi từ nãy.
Bọn lính ra khỏi xóm, lôi một đám người đi phu hớt hải chạy theo.
Những tiếng quát chửi rầm rĩ. Đến trẻ con cũng nhớn nhác.
Không thấy đứa nào đứng xem người đi, như lúc nãy.
***
Lại nghe tiếng nhạc ngựa đằng xa lanh canh vẳng tới. Bây giờ là ngựa
của châu đoàn về gọi dõng đi đổi gác.
Dõng các làng phải chia nhau lên gác ngày đêm trên các ngả núi tắt qua
biên giới. Một chợ đổi gác một lần. Lệ ác nghiệt ấy cũng không cứ mùa lúa,
mùa hồi, kể cả Tết đến. cả năm hay cả đời người ta, đều phải đi gác nghiêm
mật thế. Gác cướp, gác buôn thuốc phiện, buôn súng lậu, còn các người hội
kín, người cách mệnh, gác gì nữa, không biết hết.
Người dõng cắt lượt đi gác. Mỗi lần châu đoàn lên đồn, quan hai Tây ở
Đồng Đăng hay quan một Nà Sầm, hay quan ba đại lý ở Thất Khê thường
hỏi một câu giống nhau:
– Có cách mệnh ra biên giới không ?
Châu đoàn khúm núm:
– Bẩm quan...
https://thuviensach.vn
Đám dõng đi vét người đổi gác cũng lại sục vào xóm, như hệt bọn lính đi
bắt phu làm đường Tà Lài lúc nãy. Họ lại vào nhà người trèo hồi.
Nhưng người trèo hồi đi đã được một lúc lâu.
Trước cửa, thằng bé con ngồi chồm hỗm vẫn nguyên trên cái cối đá. Nó
lặng lẽ nhìn ra.
***
Buổi chiều, từ các đầu rừng, cái xe về bỏ từng bao hồi chín, xuống cầu
xóm cho các trạm phơi hồi, nấu hồi.
Những đoàn xe kĩu kịt về trạm.
Không trông thấy người ngồi trong cái mui phên. Chỉ nghe tiếng tẹc lưỡi
giục vào bóng tối chập choạng có con bò con trâu nào đó đương đau móng
cứ bước một khấp khểnh. Và cái đèn kính ô vuông đã lên ngọn đỏ bẻm lắc
lư trên nách sau chiếc bánh sắt lăn rào rạo. Những chiếc xe cứ lầm lì, không
biết khi đêm càng xuống, bóng tối trong các hang núi đá càng bò ra đen
sẫm thì mùi hồi càng quẩn nặng như khói bếp trên làng xóm.
Những cái xe ngựa có chiếc giỏ cỏ treo trước càng xe. Con ngựa vừa
bước vừa thục mõm vào tìm cỏ. Đã kiệt sức, nhưng hai cánh mũi nỏ lại
nhấp nhoáng, đen ướt cúp xuống, hít lên, rồi vừa khoan khoái, vừa khát
khao, dũi rào rạo vào những cái nan tre. Không một nhánh cỏ. Cứ như vậy,
con ngựa hít mùi hồi vào ngập mũi. Nó rũ mình. Mùi hồi nồng nàn tung
lên. Đầy kích thích, con ngựa lại nhảy giựt lên, chạy kiệu nhỏ.
Đoàn ngựa chở hồi về nghỉ ở các thị trấn rồi hôm sau lại đưa chủ hồi, lái
hồi đi các rừng, để thu từng gốc đã mua non từ đầu năm, hay để đặt giá
mua rồi thuê trèo, thuê tải về các trạm cho phơi, cho nấu...
Chuyến xe ngựa này về muộn, đem ra Kỳ Lừa một người trèo hồi bị ngã
cây.
Người trèo hồi nằm trong đống bao tải thừa, cũng xám ngắt như cái bao
tải. Gãy xương hay giập lá lách, không biết. Không có máu chảy, tay chân
tái đen.
https://thuviensach.vn
Buổi chiều vào thu muộn, cái thị xã Lạng Sơn xanh xám bỗng náo nức lạ
thường.
Các sòng tài xỉu, xóc đĩa bên tỉnh và bên Kỳ Lừa bắt đầu những cuộc sát
phạt ban đêm. Tiếng trống mở đố chữ đánh thùng thùng. Suốt phố Kỳ Lừa,
cả đến những hàng phở chua, người cũng chen chân như nêm.
Những người hót ra tiền ở đây đều biết từ vài hôm nay, các con buôn hồi
ở Hà Nội, ở Hải Phòng, ở Quảng Châu, ở Hồng Kông xuống và cả ở Sài
Gòn ra nữa, đương đổ đến đây. Bây giờ đương mùa hồi. Hiệu cao lâu
Thuận Lợi, hiệu Mĩ Kinh, hiệu cao lâu Tài Và chật ních. Hai bên cầu,
những hiệu ăn Âu: hiệu Pa-ri, hiệu Ba ông tướng... thêm những bọn Tây
đoan, Tây kho bạc, Tây đốc học, Tây kiểm lâm, Tây đốc tờ người, đốc tờ
chó... Các tay đại lý mua thầu thuốc phiện của Việt Điền công ty, các chủ
thầu hầm đường xe lửa ở Tà Lài đông đủ như mọi tối. Có nhà nào vừa mở
sàn nhảy, nghe nói có gái nhảy Hà Nội lên có kèn nhảy đầm tò tè suốt đêm.
Từng đoàn ô-tô vượt đèo Sài Hồ, đèn pha quét sáng trắng các mỏm đồi,
như trăng mọc. Những chiếc xe Pho V8 hay Hốc-kít kiểu Mỹ đen bóng,
khác hẳn các loại xe nhà binh màu đất thó ở đây. Chúng từ Hà Nội lên,
không dừng lại thị xã, cứ thẳng đường Lộc Bình lên vùng nghỉ mát Mẫu
Sơn. Trên mỏm núi đá trọc Mẫu Sơn cao một nghìn năm trăm thước đêm
nay có tiệc to trong nhà khách phủ Toàn quyền Đông Dương. Bọn quan
chức Tây làm ở đây ngồi uống rưựu tại quầy khách sạn Đến nhà tôi kháo
nhau: trong đoàn xe ô-tô có quan Bảy Toàn quyền mới ở Đà Lạt ra.
Con đường ven núi lên Mẫu Sơn, đèn xe nhấp nhô sóng sáng dài suối
mười năm cây số đến khách sạn đỉnh núi.
Các thị trấn Đồng Mỏ, Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Nà Sầm, Thất Khê lúc nào
cũng đông ắp người, mỗi độ có một cánh chơi, có một câu chuyện đồn thổi
khác nhau. Nhưng bây giờ thì đâu đâu cũng đương khét tiếng ăn chơi nhất
Lạng Sơn là cánh nhà thầu hầm xe lửa Tà Lài mà cánh buôn trâu bò, đỗ
tương, thuốc phiện không còn ai chú ý đến nữa.
https://thuviensach.vn
Có công ty hoả xa Đông Dương bỏ thầu mấy triệu bạc cho bắn thủng quả
núi đá Tà Lài làm đường cho xe lửa qua. Thế nào mà bọn nhà thầu chỉ bắn
mất có hai phát mìn. Thì ra quả núi ấy rỗng ruột. Bọn nhà thầu sướng đến
nỗi lão chủ chính gần hóa rồ, cứ rải giấy bạc ra khắp các chỗ chơi bời, vừa
ăn vừa thưởng tiền xem đánh nhau, vừa đi ô-tô vừa tung tiền. Và đến bây
giờ các chốn ăn chơi lại ồn ào thêm về bọn lái hồi đổ của ra phá phách liên
miên cho đến tận tháng mười, hết mùa hồi chín.
Cái xe ngựa nọ đứng lại trước cửa nhà thương. Bác đánh xe nhảy xuống
rồi xốc người ngã cây hồi khiêng vào. Bấy giờ đã tan tầm làm việc. Chỉ còn
cái hành lang vắng lặng, hôi thối, vốn quét vôi trắng, đã đen bóng những
mồ hôi và máu mủ với rác rưởi, lặng ngắt.
Đặt người trèo hồi ngã nằm xuống đấy rồi giơ tay giật cái dây chuông. Ở
trong, không động tĩnh. Bác ấy lặng lẽ giật dây lần nữa. Vẫn chỉ có tiếng
chuông, nghe kêu đằng xa tít, như chuông kêu trên trời. Đợi một lúc cũng
không thấy. Trong nhà thương không còn ai. Rồi bác đánh xe ngựa thoắt đi
ra. Người trèo hồi nằm dưới đất chợt mở mắt trông theo - cái lòng trắng của
người hấp hối nhợt nhạt lấp lên con ngươi. Rồi con mắt buồn bã nhắm lại.
Cái xe ngựa lại lọc cọc mờ vào bóng tối. Con ngựa đã mệt bã, lưng sũng
mồ hôi, chốc chốc lại thúc mõm vào cái giỏ đựng cỏ, xốc nghiêng cả lên,
như giỏ đóng vào mũi. Cũng chẳng thấy gì.
Người trên xe cười nói những chuyện chắp nối đâu đâu. Bấy giờ mới biết
trong xe còn mấy người nữa.
– Quan chủ bảo mày về nhà Tài Và mà ngủ.
– Tối nay lão cóc vàng chơi đâu?
– Chết mệt với “hối théng”[1] nhà Tài Dẻo.
– Ờ, mấy “ả múi” nhà ấy thế là câu được lão cóc vàng rồi. Đã biết mà!
– Này, đánh bạc ở Đồng Mỏ thì chết cũng tạm nhắm mắt, mày ạ. Nó vét
nhẵn túi, nhưng còn đãi mình một bữa no say cật lực, không cỏ rả như mấy
thằng chủ sòng mắt trắng môi thâm ở Kỳ Lừa.
https://thuviensach.vn
– Chuyện! Nhân nghĩa bọn chủ sòng mà buồn! Tranh khách thì phải thế
thôi.
Giọng trống quân ồ ề của bác đánh xe cất lên. Không hiểu người hát
đương vui hay buồn, tiếng khê nằng nặc cứ lạc trong hơi hồi chín.
Thứ nhất, quán Bầu, Chi Lăng
Thứ nhì Cây Khế Đồng Đăng, Kỳ Lừa[2]
Đêm ấy, vẫn gió hồi miên man về. Thằng bé con người trèo hồi lại ngủ
một mình. Nó không hề nghĩ bố nó ngã cây hồi rồi. Nó chỉ biết bố nó đi
trèo hồi lấy cái Tết tháng bảy. Nó thí tháng bảy có bún và được ăn cái tỏi gà
cho nên nó không sợ nằm đêm một mình.
Hôm sau, cái xe ngựa ấy qua nhà thương.
Bác đánh xe ngái ngủ chợt nhìn vào hành lang. Cái hành lang lạnh xám
như chiều qua. Và người trèo hồi ngã vẫn nằm ở chỗ chiều hôm qua.
Nhưng khác hôm qua. Cái hình người bây giờ dẹp đét, mỏng dính lại,
kênh lên như một cành cây. Chỉ thoáng nhìn đã cảm thấy lạnh đến tận mắt.
Dòng kiến nâu xù xì bò đầy lên hai vành tai cái xác chết.
Bác đánh xe quất con ngựa một cái. Cái xe lọc cọc chồm đi. Con ngựa
chạy nghênh hai cánh mũi ướt, đẫm hơi hồi, vừa thở vừa hí vang động.
***
Thụ bảo Chi:
– Không thể như thế được!
– Thụ ơi! Đất nước ta đau đớn mãi như thế ư?
– Không!
Trước mặt hai người bạn, sông Kỳ Cùng đương ườn mình ra xa. Dòng
sông này chảy tới Quảng Châu, mà tưởng như lúc nào hai người cũng nghe
vang lại tiếng bom Quảng Châu của Phạm Hồng Thái nổ ở Sa Diện năm
trước, trong mùi hồi bốc lên mặt nước vẫn âm thầm tiếng bom nổ thật kích
động, thật lạ lùng. Muốn làm cách mệnh, cứu đất nước, phải đứng lên đánh
thằng Tây như thế mới được.
https://thuviensach.vn
Trông khoé mắt cháy rực của hai người thanh niên cùng sôi nổi một khát
vọng. Đứng trên đầu cầu Kỳ Lừa,eo dòng nước chảy ra biển Đông, tưởng
sẽ tới được những nơi đương sôi sục, cần phải đi tới những nơi sôi sục ấy
mới học được cách mệnh trên thế giới.
Thụ nói cái ý tha thiết ấy với Chi.
https://thuviensach.vn
I
Tiếng gà sang canh đẫm hơi lạnh nửa đêm nghe đã thấy buốt rợn. Thụ và
Viết vẫn chưa ngủ. Có lẽ đêm nay cũng chẳng còn mấy lúc mà ngủ nữa.
Hai người ngồi thì thầm trưóc cái bếp lửa giữa gian bên - lửa vạc hẳn từ
bao giờ, tàn than đã nhờ nhờ trắng và cái lạnh tê tái cứ bò dần dần lên vai,
xuống sống lưng.
Viết nói:
– Tháng sau thì cưới chị Dụ...
Thụ im lặng nhìn, không chú ý vào bếp và không đáp. Câu nhắc nhở thân
tình ấy của Viết vào lúc này lại gợi trong Thụ một ý nghĩa khó chịu khác.
Hôm qua, trên tàu hoả Nà Sầm xuống Đồng Đăng, lúc tàu qua Cốc Nam,
Thụ ra cửa toa nhìn sang rồi rỉ tai Viết:
– Quãng này sang bên kia có mấy bước chân thôi, Viết ạ.
Viết ngước mắt, khẽ hỏi lại Thụ:
– Đi à?
Lúc ấy, Thụ nhìn Viết, vẻ ngạc nhiên. Bởi vì chuyện cùng nhau đi Trung
Quốc tìm cách mệnh, đối với hai đứa, đương như người đã co cẳngảy vượt
bờ rào. Câu hỏi chứng tỏ Viết có chiều ngần ngại. Mới biết, hiểu được lòng
người thật khó. Nhưng nghĩ thế, Thụ chỉ thấy càng thương Viết. Thụ nhẹ
nhàng đáp lại không biết là trả lời câu nào của Viết nhưng không một vẻ
khó chịu:
– Biết thế, nhưng mà chúng mình lỡ hẹn ở Nà Sầm rồi.
Hai người lại trở về Nhân Lý.
Từ lúc ấy, dọc đường, hầu như không ai nói một câu.
Thụ đoán Viết lưỡng lự, Thụ không muốn ép. Mẹ Viết già yếu. Bố thì
nghiện, càng ngày càng nghèo. Mấy năm nay, hễ ở trong xóm nghe tiếng
https://thuviensach.vn
trống tùng tùng ngoài Đon Đình thì mọi người đoán đấy là trống báo có
một đám ruộng nhà Viết lại sắp phải đi sang cửa nhà khác[3]. Mà đúng như
thế. Thụ thương Viết lắm.
Nhưng Viết chưa hiểu nổi rằng: “Phải đánh thằng Tây, lấy lại được nước,
phải vật cổ bọn vua quan lính tráng kia xuống thì mới phá được cái đau đớn
ấy”, muốn thế, hãy đi tìm cách mệnh. Mỗi lần ở thị xã về, Thụ đã bàn bạc
nhiều, nhưng Viết lúc thì hăng muốn đi ngay, lúc thì lặng im, Viết sợ, Viết
hơi chập chờn. Hôm trước, Viết đã mạnh bạo đi Nà Sầm với Thụ. Nếu cứ
sang ngay Cốc Nam lúc ấy, chắc Viết đi luôn. Nhưng đến một người đi chợ
cũng không gặp. Nếu có ai, chỉ hỏi thăm đến được Bản Đảy là đi ngay thôi.
Nhưng rồi Viết lại trù trừ. Thụ muốn kêu lên: “Viết ơi! Mày nghĩ thế nào?”
Ấy là lúc Thụ càng tha thiết nghĩ và thương và giận bạn.
Bây giờ thì Thụ đã nghĩ dứt được: Viết có cái khó. Viết chưa quyết tâm.
Thôi, để rồi cũng có khi. Không thể bắt buộc. Thụ định lần này không rủ
Viết
Một lúc, Thụ nói:
– Ừ đến tháng sau thì cưới chị Dụ mình, rồi đến Tết. Mình đã nói với chị
ấy, nếu em về kịp ăn cưới chị thì may, bằng không thì khi nào em về được,
em về. Lần lữa rồi lại đến Tết, không được. Bây giờ Thụ đi, Viết ạ.
Viết hỏi nhanh:
– Đi bây giờ a?
Thụ không đáp thẳng câu hỏi, mà trông ra ngoài khe vách, nói:
– Gà gáy sang canh lâu rồi. Thế là chúng mình thức gần suốt đêm.
– Sao bảo đợi có hẹn ở Nà Sầm về rồi mới đi?
– Không đợi nữa. Nhưng lần này Viết hãy cứ ở nhà, để mình sang bên ấy
nghe tình hình ra sao đã.
Viết “à” một tiếng nhỏ, như thở dài. Vẻ vừa tiếc, vừa ngượng. Và Viết
cúi mặt, không nhìn Thụ.
https://thuviensach.vn
Lúc ấy, một cơn ho thiếu thuốc phiện như bị sặc, kéo đến, dựng bố Viết ở
giường bên rũ rượi ngồi dậy. Rồi tiếng ho cứ thúng thắng mãi của người già
trong đêm khuya càng làm cho Viết thấy mình buồn hẳn đi. Thụ không biết
được mắt Viết đã ướt. Trong bóng tối, Viết để mặc cho nước mắt chảy ướt
trên mặt.
Thụ bước đến bên giường bố Viết.
– Chào bác.
– Cháu đi à?
– Cháu phải đi ra Đồng Đăng cho kịp tàu xuôi sớm.
– Cháu đi đâu?
– Ch đã xin được chân ký ga ở dưới xuôi.
Ông cụ lại ho. Ông cứ trừng mắt nhìn Thụ, rồi hổn hển nói:
– Cháu ơi! Đến ngày cháu về chắc tao chẳng còn sống, tao biết rồi.
– Không, bác vẫn khoẻ, cháu mong bác vẫn bình yên khoẻ mạnh.
Ông cụ lắc đầu.
– Cái chân này xưa nay của mình mà bây giờ mình cũng không sai bảo
được nó đi đâu nữa rồi, khó quá.
Viết và Thụ ra đầu hè. Thụ lại nói: “Để mình đi nghe tình hình cách
mệnh ra sao, khi có tin về thì đi cùng nhau đấy”. Rồi Thụ bước vào trong
làn sương mù có lẫn trăng suông phủ xuống dưới thung, sang tận dải núi
bên xóm Bó Lào. Nét núi mờ dường như kéo dài ra.
Viết bàng hoàng quay vào, ngồi một mình trước đống lửa vạc. Ông cụ
khập khiễng bước sang bên vách, khuân hai cây củi mới đến, đặt xuống
khơi lại cái bếp.
Bấy giờ, có ánh lửa, người ngồi bếp mới có bóng. Bỗng nhiên, ông cụ
đăm đăm nhìn bóng mình rồi nói hổn hển và sôi nổi, trong tiếng lép bép củi
mới nổ.
– Con ạ, ngày trưóc, cái khi nhà ta còn ở trên Đồng Đăng, đã có nhiều
lần vào lúc nửa đêm thế này, tao đưa các ông cách mệnh đi Long Châu, ờ,
https://thuviensach.vn
cũng vào những tháng rét sắp Tết này... Các ông nói các ông đã theo cách
mệnh đánh Tây rồi bây giờ xuống thuyền ra bể đi tìm cách mệnh ở bên
Nhật Bản và tận những đâu, nhiều nơi nữa. Tao biết cả, tao hỏi thế thôi chứ
tao biết cái chí thằng Thụ...
Viết nhìn bố, thấy lạ hẳn. Từ khi lớn, Viết chỉ thấy bố ốm, bố gầy yếu
mãi đi. Viết chỉ thấy quanh năm bố đi cày, đi trèo hồi thuê - hồ như không
biết một việc gì khác ở đời và không nói ra những câu như thế bao giờ.
Nhưng thế là bố đã biết cả.
Viết khóc thành tiếng, như khi còn bé. Viết muốn chạy ngay theo Thụ.
Viết gục đầu xuống, ôm hai tay lên mặt.
Đêm ấy, Thụ đi tắt đường sang châu Điềm He. Vừa hay, tảng sáng thì tới
Bản Hẻo.
Đi suốt đêm ngoài sương, nhạt hết hơi người, vào đến trong xóm, con
chó cũng không biết. Không một tiếng chó cắn. Thụ cứ tự nhiên vào đi
quanh dưới gầm sàn nhà Chi. Đến đúng chỗ giường Chi nằm - Thụ đã biết
trước, Thụ khẽ gõ ngón tay vào cái xà gỗ. Lập tức, nghe tiếng chân động
sàn ngay. Như cả đêm qua Chi vẫn thức đợi. Đúng là Chi vẫn thức đợi Thụ
thật. Thụ rón rén đến để đợi Chi ở bên cái chân thang nhỏ đằng sau bếp.
Chi đã xuống đứng đấy, nói:
– Đợi mấy hôm rồi!
Thụ cười - miệng cười mở rộng. Thụ cảm thấy mọi việc trôi chảy. Những
suy nghĩ về Viết trong đêm qua làm bận tâm Thụ, đến bây giờ gặp Chi, mới
thấy lòng thanh thản và bồn chồn, sôi nổi hẳn lên, sẵn sàng... Hai người
cùng nghĩ như nhau:
– Đi.
Nói đến đi tìm cách mệnh, đi làm cách mệnh, bao giờ hai người cũng
tưởng ra một đoàn tàu hỏa đương vun vút lao, trên mình đoàn tàu oai hùng
lấp lánh ánh sáng bóng cây và bóng nắng liên liến đưa qua các cửa toa
những hình ảnh chuyển động, rực rỡ, những cái gì thay đổi. Tiếng còi tàu
nổi lên, xé ngang mọi băn khoăn và luôn luôn thúc giục người đi xa.
https://thuviensach.vn
Thụ và Chi đi. Người vượt biên giới hay chọn đi vào ngày gần Tết, cũng
có ý riêng. Áp Tết, cướp cũng vãn, khỏi gặp trắc trở, lính tuần thì có vẻ trễ
tràng. Đến lính tráng cũng bỏ tuần Phong, còn phải chạy chợ, lo cho miếng
ăn ngày mừng năm mới.
Đưòng lên biên giới cứ thuốn sâu vào những thung lũng nhỏ, mỗi lúc
một khép lại giữa hai gò núi. Ngọn đá lô xô như ai vừa giơ lên những ngón
tay thật cao, nhọn hoắt, tưởng gió thổi đương lung lay.
Hai người tạt sau núi, chỗ Cốc Nam. Cốc Nam chỉ cách Đồng Đăng chưa
đầy hai ki-lô-mét. Chỉ một bước chân đã đến đất Trung Quốc. Tuy nhiên,
Thụ cảm động, nghĩ: ta đang đi trên con đường tìm cách mệnh. Bởi vì, tuy
chỉ mới một bước chân, nhưng trong lòng đã nhất quyết và thấy khác hẳn
trước khi đi.
***
Các làng đương vào những ngày áp Tết.
Gặt xong, mọi công nợ bắt đầu trang trải. Trước nhất, thóc nhà khó vào
yên bồ nhà giàu. Trong làng, vẻ Tết đã dần dần hiện ra. Chưa phải chuyện
yên vui, mà những lo lắng đến trước. Con ngựa, là cái chân giúp người
kiếm ra tiền. Tết đến, nhà ai có ngựa thì phải buộc cái cây tiền ấy vào trong
tàu rồi đành ngày ngày đi cắt cỏ về cho nó ăn. Vào tháng củ mật này, con
ngựa chỉ chót quá chân gặm cỏ xế xuống chỗ ruộng thấp, cái đuôi ve vẩy
vừa khuất, đã có thể bị người ta dắt biến vào rừng. Người ăn trộm lúc nào
cũng vơ vẩn đứng sẵn đầu ruộng. Chẳng thế mà cứ sắp Tết, cả đến những
con bò, con trâu cũng biết sợ, chịu nằm yên trong chuồng đầu nhà và dưới
sàn. Người ăn trộm đi rình bắt trâu bò, bắt lợn cả đêm.
Tết đã đến.
Người buôn bán vào các làng bán rượu, bán muối, bán miến. Những
người đi gánh hàng thuê, quần xắn, cái nón “tờ” ngật ra đằng sau. Cái đầu
trọc nhấp nhô giữa hai chiếc túi chàm lớn đựng hàng. Bàn chân vấp đá, bật
ra bùn và máu. Người gánh hàng thuê vẫn ngày ngày lom khom xuống dốc
lũng, cố gắng, hòng kiếm ít lãi ăn Tết.
https://thuviensach.vn
Tết đã đến.
Các chợ Ải Khẩu, chợ Lũng Vài bên Trung Quốc hay chợ Nà Sầm, chợ
Đồng Đăng, chợ Kỳ Lừa bên này, đã thấy người các làng về sắm Tết, chơi
Tết đông hơn phiên chợ thường. Lại thấy về từng bọn trai gái ngồi trong
các cầu hát đối hết đêm đến sáng, hát sang suốt cả ngày chợ. Cái vui cái lo
của con người cứ chen lấn, quấn quýt cùng về với nhau khi năm hết Tết
đến.
Tết đã đến.
Vào dạo áp Tết mỗi năm, trên những chuyến tàu đường Lạng Sơn, người
sẵn tiền hay về xuôi sắm Tết đông. Thoạt nom cũng biết ngay người thị trấn
đường ngược. Thanh niên đi giày tây gan gà có cổ, áo lương hay dạ Mông
Tự, đầu chít khăn lượt mốt mới, khá thịnh hành. Người đứng tuổi thì giày
ban, giày Gia Định, dưới mũi để lún phún cụm ria Hoa Kỳ. Có người xốc
vác và mới hơn nữa, mặc bộ tây ka-ki vàng, như tay thầu khoán hoặc nhà
đoan. Mấy năm nay đời sống thành thị tràn ngập mọi nơi, chỉ xem cách ăn
mặc của người ta, khó phân biệt xuôi hay ngược.
Thế vậy. Trên những con tàu xuôi ngược, ai mà biết người xuôi lên hay
người Lạng Sơn xuống. Tuy nhiên, nếu để ý kĩ, dù áo quần tương tự vậy,
nhưng vẻ lặng lẽ và trầm ngâm ở một số người, cũng dễ thấy là lạ. Thường,
những người ấy ngồi yên một chỗ, nhưng cứ ở đầu hay cuối toa, trên con
tàu chật ních. Con mắt nhìn thoáng, rất nhanh. Có khi đeo kính rợp. Những
người vẻ tương tự thế chỉ thỉnh thoảng gặp trên tàu Lạng Sơn. Tuy nhiên,
cái đó cũng bình thường. Người buôn các nơi đến Lạng Sơn và ra cửa khẩu
cũng nhiều.
Bấv giờ đương vào quãng một nghìn chín trăm hai mươi bảy (1927). Đất
nước lại trải những cơn bồng bột mới. Tiếng bom Sa Diện cứ vọng lại như
hòn đá ném xuống nước, vòng sóng động xa đi mãi, càng làm cho những
người thanh niên băn khoăn và thấy con đường cứu nước đương mở ra ở
khắp nơi. Họ càng cảm nỗi đau mất nước và cảnh nhục nhã chịu sự đàn áp
của thằng Tây và vua quan giày vò bao nhiêu thì lại càng khó thở trước
cuộc sống bé nhỏ và thảm hại, đầy vướng mắc, đè nặng. Các thế hệ tuổi trẻ
https://thuviensach.vn
đều thấy tự nhiên rằng làm đòi người không thể là thế này mà còn cần có
một ý nghĩa gì cao cả hơn. Trưóc hết, phải vùng lên, phải đi. Thế là họ đi.
Lên Lào. Sang Xiêm. Vào Sài Gòn. Xuống Hải Phòng. Họ đi khắp nơi. Họ
trốn xuống tàu biển. Họ rủ nhau tìm ra các vùng biên giới.
Các cụ già ở biên giới bây giờ còn kể chuyện cứ mỗi thời kỳ trong nước
có biến cố lại có từng đợt người ra đi qua Lạng Sơn. Hồi Đông Du, thấy
nhiều người già, nhiều ông đồ nho. Có những người đường trong, nói tiếng
Kinh kh
TUỔI TRẺ HOÀNG VĂN THỤ
Tiểu thuyết
(In lần thứ hai)
Tác giả: TÔ HOÀI
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN HÀ NỘI - 2004
Thực hiện ebook: hoi_ls
(www.e-thuvien.com)
Epub (2020): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
MỞ ĐẦU
Nửa đêm kia, có một người Nùng ở một xóm khuất bên dốc Keng Vài
bỗng thức giấc.
Rõ ràng, trong bóng tối mà mắt trông thấy được, cuồn cuộn thành luồng
luồn qua những khe tường đất bên nách cửa, có một mùi ấm và thơm lạ
lùng. Chẳng mấy chốc mùi thơm đã đầy nhà, nồng nàn đến tận chân tóc.
Người ấy lẩm nhẩm một mình:
– Đến mùa hái hồi rồi.
Thằng con nằm cạnh bố cũng ngồi nhỏm dậy. Nó hỏi:
– Bố sắp phải đi trèo hồi, bốn hỉ?
Bố nói:
– Mai đi sớm thôi. Trèo hồi còn kịp lấy cái Tết r tháng bẩy này về cho
mày.
Thằng bé ngẩn ngơ reo lên:
– Sướng lắm nhỉ?
Buổi sáng, tất cả mọi người đều đổ ra đường. Ai cũng đứng ngửng lên
cho thấy mùi hồi chín chảy qua mặt. Rừng hồi ngào ngạt xanh thẫm trên
các quả đồi quanh làng. Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi, từ các cánh đồng
Thất Khê, lùa lên những hang đá Văn Uyên, Thoát Lãng trên biên giới
xuống Cao Lộc, Chi Lăng, qua những vùng hồi mà một mảnh lá gãy cũng
dậy mùi thơm, gió càng thơm ngát. Sông Kỳ Cùng đã nhạt hết màu đục đỏ
bối rối suốt mùa lũ, bây giờ con sông ủ mùi thơm trong vắt lượn, quanh co
khắp đất Lạng Sơn vào mùa hồi chín.
Lại đến mùa hái hồi!
Có những ông già người Nùng Cháo, đến mùa thì theo mùi hồi chín đi
bán rượu. Người vác chảo, đội đõ, người đeo hũ. Ngả chảo rồi bệ cái đõ
https://thuviensach.vn
lên, bán rượu nóng cho người hái hồi, ngay đầu rừng.
Và cứ khi mùi hồi chín lại thấy cơ man người đi trèo hồi, hái thuê. Người
Nùng ở biên giới vào, người Tày lặn lội trong các vùng khe dọc ra, người
Kinh ở Đồng Mỏ, ở Hữu Lũng lên. Họ đi thành từng bọn. Nắng lên, toả ra,
cái nắng tháng bảy rưng rưng ở các đầu rừng lao xao tiếng người đánh xe
ngựa chở hồi cho lái buôn.
Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, gãy gọn hơn cả cành khế.
Quả hồi, phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành. Người trèo hồi hay bị ngã lúc
với tay ra hái. Người ngã hồi rơi thẳng xuống gốc, đành què gẫy mà chết,
không đỡ được. Bởi vậy, người đi trèo hồi thuê thường thèm ngụm rượu
cho dễ liều hơn.
Người trèo hồi ấy đã đứng ra trước cửa. Cái túi chàm lép đựng nắm cơm.
Chiếc xe ngựa tải hồi của lái buôn đủng đỉnh qua. ;i trèo hồi, cứ thế nhảy
trộm lên sau xe, ngồi tựa lưng vào một đống bao bì cao ngất.
Con ngựa sục mõm vào giỏ cổ rồi hắt hơi, lắc mũi mấy cái. Chẳng biết
bực mình hay mừng rỡ, con ngựa lại cất chân chạy đổi nước. Người đánh
xe gò cương lại. Nhưng cũng không biết sau lưng xe có đã thêm mấy người
trèo hồi đi nhờ.
Chỉ có lũ trẻ con trong xóm trông thấy. Chúng reo ầm lên. Chúng sung
sướng ước được trèo lên, mặc cho chiếc xe có mùi hồi thơm muốn đưa đi
xa những đâu thì đi.
Thằng con kiễng chân, nói như thét:
– Bố đi lấy cái Tết tháng bảy về... lấy về...
Nó cũng đương nghĩ cái xe ngựa đi đến những nơi sung sướng lấy cái
Tết tháng bảy về, như những đứa trẻ khác. Những cái xe tải hồi đã đi xa.
Nắng nhạt tháng bảy đọng lại, các khe, các hang rỗng trong lòng núi cũng
ẩm ướt mùi hồi.
***
Lại nghe đằng kia nhong nhong tiếng ngựa. Từ nửa đêm đã nhộn nhịp xe
ngựa, xe trâu của lái buôn về qua.
https://thuviensach.vn
Nhưng đây là ngựa đeo nhạc. Nghe tiếng nhạc xoang xoảng thì người
trong làng biết đấy là ngựa quan châu. Và tiếng ngựa quan châu thì không
kể mùa hồi hay mùa lúa. Quan đi tuần. Quan đi bắt phu làm đường, xẻ núi
hầm xe lửa. Quanh năm.
Bọn lính khố lục đeo súng dài, một tay ôm băng đạn vừa chạy vừa kêu
qua trước cửa:
– Đường Tà Lài! Đường Tà Lài
Thế là ai cũng lại biết quan và lính đi các làng bắt phu lên biên giới làm
đường hầm xe lửa ở Tà Lài.
Lính đẩy cửa vào nhà người trèo hồi.
Nhưng người ấy đã trèo lên lưng cái xe ngựa tải hồi từ nãy.
Bọn lính ra khỏi xóm, lôi một đám người đi phu hớt hải chạy theo.
Những tiếng quát chửi rầm rĩ. Đến trẻ con cũng nhớn nhác.
Không thấy đứa nào đứng xem người đi, như lúc nãy.
***
Lại nghe tiếng nhạc ngựa đằng xa lanh canh vẳng tới. Bây giờ là ngựa
của châu đoàn về gọi dõng đi đổi gác.
Dõng các làng phải chia nhau lên gác ngày đêm trên các ngả núi tắt qua
biên giới. Một chợ đổi gác một lần. Lệ ác nghiệt ấy cũng không cứ mùa lúa,
mùa hồi, kể cả Tết đến. cả năm hay cả đời người ta, đều phải đi gác nghiêm
mật thế. Gác cướp, gác buôn thuốc phiện, buôn súng lậu, còn các người hội
kín, người cách mệnh, gác gì nữa, không biết hết.
Người dõng cắt lượt đi gác. Mỗi lần châu đoàn lên đồn, quan hai Tây ở
Đồng Đăng hay quan một Nà Sầm, hay quan ba đại lý ở Thất Khê thường
hỏi một câu giống nhau:
– Có cách mệnh ra biên giới không ?
Châu đoàn khúm núm:
– Bẩm quan...
https://thuviensach.vn
Đám dõng đi vét người đổi gác cũng lại sục vào xóm, như hệt bọn lính đi
bắt phu làm đường Tà Lài lúc nãy. Họ lại vào nhà người trèo hồi.
Nhưng người trèo hồi đi đã được một lúc lâu.
Trước cửa, thằng bé con ngồi chồm hỗm vẫn nguyên trên cái cối đá. Nó
lặng lẽ nhìn ra.
***
Buổi chiều, từ các đầu rừng, cái xe về bỏ từng bao hồi chín, xuống cầu
xóm cho các trạm phơi hồi, nấu hồi.
Những đoàn xe kĩu kịt về trạm.
Không trông thấy người ngồi trong cái mui phên. Chỉ nghe tiếng tẹc lưỡi
giục vào bóng tối chập choạng có con bò con trâu nào đó đương đau móng
cứ bước một khấp khểnh. Và cái đèn kính ô vuông đã lên ngọn đỏ bẻm lắc
lư trên nách sau chiếc bánh sắt lăn rào rạo. Những chiếc xe cứ lầm lì, không
biết khi đêm càng xuống, bóng tối trong các hang núi đá càng bò ra đen
sẫm thì mùi hồi càng quẩn nặng như khói bếp trên làng xóm.
Những cái xe ngựa có chiếc giỏ cỏ treo trước càng xe. Con ngựa vừa
bước vừa thục mõm vào tìm cỏ. Đã kiệt sức, nhưng hai cánh mũi nỏ lại
nhấp nhoáng, đen ướt cúp xuống, hít lên, rồi vừa khoan khoái, vừa khát
khao, dũi rào rạo vào những cái nan tre. Không một nhánh cỏ. Cứ như vậy,
con ngựa hít mùi hồi vào ngập mũi. Nó rũ mình. Mùi hồi nồng nàn tung
lên. Đầy kích thích, con ngựa lại nhảy giựt lên, chạy kiệu nhỏ.
Đoàn ngựa chở hồi về nghỉ ở các thị trấn rồi hôm sau lại đưa chủ hồi, lái
hồi đi các rừng, để thu từng gốc đã mua non từ đầu năm, hay để đặt giá
mua rồi thuê trèo, thuê tải về các trạm cho phơi, cho nấu...
Chuyến xe ngựa này về muộn, đem ra Kỳ Lừa một người trèo hồi bị ngã
cây.
Người trèo hồi nằm trong đống bao tải thừa, cũng xám ngắt như cái bao
tải. Gãy xương hay giập lá lách, không biết. Không có máu chảy, tay chân
tái đen.
https://thuviensach.vn
Buổi chiều vào thu muộn, cái thị xã Lạng Sơn xanh xám bỗng náo nức lạ
thường.
Các sòng tài xỉu, xóc đĩa bên tỉnh và bên Kỳ Lừa bắt đầu những cuộc sát
phạt ban đêm. Tiếng trống mở đố chữ đánh thùng thùng. Suốt phố Kỳ Lừa,
cả đến những hàng phở chua, người cũng chen chân như nêm.
Những người hót ra tiền ở đây đều biết từ vài hôm nay, các con buôn hồi
ở Hà Nội, ở Hải Phòng, ở Quảng Châu, ở Hồng Kông xuống và cả ở Sài
Gòn ra nữa, đương đổ đến đây. Bây giờ đương mùa hồi. Hiệu cao lâu
Thuận Lợi, hiệu Mĩ Kinh, hiệu cao lâu Tài Và chật ních. Hai bên cầu,
những hiệu ăn Âu: hiệu Pa-ri, hiệu Ba ông tướng... thêm những bọn Tây
đoan, Tây kho bạc, Tây đốc học, Tây kiểm lâm, Tây đốc tờ người, đốc tờ
chó... Các tay đại lý mua thầu thuốc phiện của Việt Điền công ty, các chủ
thầu hầm đường xe lửa ở Tà Lài đông đủ như mọi tối. Có nhà nào vừa mở
sàn nhảy, nghe nói có gái nhảy Hà Nội lên có kèn nhảy đầm tò tè suốt đêm.
Từng đoàn ô-tô vượt đèo Sài Hồ, đèn pha quét sáng trắng các mỏm đồi,
như trăng mọc. Những chiếc xe Pho V8 hay Hốc-kít kiểu Mỹ đen bóng,
khác hẳn các loại xe nhà binh màu đất thó ở đây. Chúng từ Hà Nội lên,
không dừng lại thị xã, cứ thẳng đường Lộc Bình lên vùng nghỉ mát Mẫu
Sơn. Trên mỏm núi đá trọc Mẫu Sơn cao một nghìn năm trăm thước đêm
nay có tiệc to trong nhà khách phủ Toàn quyền Đông Dương. Bọn quan
chức Tây làm ở đây ngồi uống rưựu tại quầy khách sạn Đến nhà tôi kháo
nhau: trong đoàn xe ô-tô có quan Bảy Toàn quyền mới ở Đà Lạt ra.
Con đường ven núi lên Mẫu Sơn, đèn xe nhấp nhô sóng sáng dài suối
mười năm cây số đến khách sạn đỉnh núi.
Các thị trấn Đồng Mỏ, Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Nà Sầm, Thất Khê lúc nào
cũng đông ắp người, mỗi độ có một cánh chơi, có một câu chuyện đồn thổi
khác nhau. Nhưng bây giờ thì đâu đâu cũng đương khét tiếng ăn chơi nhất
Lạng Sơn là cánh nhà thầu hầm xe lửa Tà Lài mà cánh buôn trâu bò, đỗ
tương, thuốc phiện không còn ai chú ý đến nữa.
https://thuviensach.vn
Có công ty hoả xa Đông Dương bỏ thầu mấy triệu bạc cho bắn thủng quả
núi đá Tà Lài làm đường cho xe lửa qua. Thế nào mà bọn nhà thầu chỉ bắn
mất có hai phát mìn. Thì ra quả núi ấy rỗng ruột. Bọn nhà thầu sướng đến
nỗi lão chủ chính gần hóa rồ, cứ rải giấy bạc ra khắp các chỗ chơi bời, vừa
ăn vừa thưởng tiền xem đánh nhau, vừa đi ô-tô vừa tung tiền. Và đến bây
giờ các chốn ăn chơi lại ồn ào thêm về bọn lái hồi đổ của ra phá phách liên
miên cho đến tận tháng mười, hết mùa hồi chín.
Cái xe ngựa nọ đứng lại trước cửa nhà thương. Bác đánh xe nhảy xuống
rồi xốc người ngã cây hồi khiêng vào. Bấy giờ đã tan tầm làm việc. Chỉ còn
cái hành lang vắng lặng, hôi thối, vốn quét vôi trắng, đã đen bóng những
mồ hôi và máu mủ với rác rưởi, lặng ngắt.
Đặt người trèo hồi ngã nằm xuống đấy rồi giơ tay giật cái dây chuông. Ở
trong, không động tĩnh. Bác ấy lặng lẽ giật dây lần nữa. Vẫn chỉ có tiếng
chuông, nghe kêu đằng xa tít, như chuông kêu trên trời. Đợi một lúc cũng
không thấy. Trong nhà thương không còn ai. Rồi bác đánh xe ngựa thoắt đi
ra. Người trèo hồi nằm dưới đất chợt mở mắt trông theo - cái lòng trắng của
người hấp hối nhợt nhạt lấp lên con ngươi. Rồi con mắt buồn bã nhắm lại.
Cái xe ngựa lại lọc cọc mờ vào bóng tối. Con ngựa đã mệt bã, lưng sũng
mồ hôi, chốc chốc lại thúc mõm vào cái giỏ đựng cỏ, xốc nghiêng cả lên,
như giỏ đóng vào mũi. Cũng chẳng thấy gì.
Người trên xe cười nói những chuyện chắp nối đâu đâu. Bấy giờ mới biết
trong xe còn mấy người nữa.
– Quan chủ bảo mày về nhà Tài Và mà ngủ.
– Tối nay lão cóc vàng chơi đâu?
– Chết mệt với “hối théng”[1] nhà Tài Dẻo.
– Ờ, mấy “ả múi” nhà ấy thế là câu được lão cóc vàng rồi. Đã biết mà!
– Này, đánh bạc ở Đồng Mỏ thì chết cũng tạm nhắm mắt, mày ạ. Nó vét
nhẵn túi, nhưng còn đãi mình một bữa no say cật lực, không cỏ rả như mấy
thằng chủ sòng mắt trắng môi thâm ở Kỳ Lừa.
https://thuviensach.vn
– Chuyện! Nhân nghĩa bọn chủ sòng mà buồn! Tranh khách thì phải thế
thôi.
Giọng trống quân ồ ề của bác đánh xe cất lên. Không hiểu người hát
đương vui hay buồn, tiếng khê nằng nặc cứ lạc trong hơi hồi chín.
Thứ nhất, quán Bầu, Chi Lăng
Thứ nhì Cây Khế Đồng Đăng, Kỳ Lừa[2]
Đêm ấy, vẫn gió hồi miên man về. Thằng bé con người trèo hồi lại ngủ
một mình. Nó không hề nghĩ bố nó ngã cây hồi rồi. Nó chỉ biết bố nó đi
trèo hồi lấy cái Tết tháng bảy. Nó thí tháng bảy có bún và được ăn cái tỏi gà
cho nên nó không sợ nằm đêm một mình.
Hôm sau, cái xe ngựa ấy qua nhà thương.
Bác đánh xe ngái ngủ chợt nhìn vào hành lang. Cái hành lang lạnh xám
như chiều qua. Và người trèo hồi ngã vẫn nằm ở chỗ chiều hôm qua.
Nhưng khác hôm qua. Cái hình người bây giờ dẹp đét, mỏng dính lại,
kênh lên như một cành cây. Chỉ thoáng nhìn đã cảm thấy lạnh đến tận mắt.
Dòng kiến nâu xù xì bò đầy lên hai vành tai cái xác chết.
Bác đánh xe quất con ngựa một cái. Cái xe lọc cọc chồm đi. Con ngựa
chạy nghênh hai cánh mũi ướt, đẫm hơi hồi, vừa thở vừa hí vang động.
***
Thụ bảo Chi:
– Không thể như thế được!
– Thụ ơi! Đất nước ta đau đớn mãi như thế ư?
– Không!
Trước mặt hai người bạn, sông Kỳ Cùng đương ườn mình ra xa. Dòng
sông này chảy tới Quảng Châu, mà tưởng như lúc nào hai người cũng nghe
vang lại tiếng bom Quảng Châu của Phạm Hồng Thái nổ ở Sa Diện năm
trước, trong mùi hồi bốc lên mặt nước vẫn âm thầm tiếng bom nổ thật kích
động, thật lạ lùng. Muốn làm cách mệnh, cứu đất nước, phải đứng lên đánh
thằng Tây như thế mới được.
https://thuviensach.vn
Trông khoé mắt cháy rực của hai người thanh niên cùng sôi nổi một khát
vọng. Đứng trên đầu cầu Kỳ Lừa,eo dòng nước chảy ra biển Đông, tưởng
sẽ tới được những nơi đương sôi sục, cần phải đi tới những nơi sôi sục ấy
mới học được cách mệnh trên thế giới.
Thụ nói cái ý tha thiết ấy với Chi.
https://thuviensach.vn
I
Tiếng gà sang canh đẫm hơi lạnh nửa đêm nghe đã thấy buốt rợn. Thụ và
Viết vẫn chưa ngủ. Có lẽ đêm nay cũng chẳng còn mấy lúc mà ngủ nữa.
Hai người ngồi thì thầm trưóc cái bếp lửa giữa gian bên - lửa vạc hẳn từ
bao giờ, tàn than đã nhờ nhờ trắng và cái lạnh tê tái cứ bò dần dần lên vai,
xuống sống lưng.
Viết nói:
– Tháng sau thì cưới chị Dụ...
Thụ im lặng nhìn, không chú ý vào bếp và không đáp. Câu nhắc nhở thân
tình ấy của Viết vào lúc này lại gợi trong Thụ một ý nghĩa khó chịu khác.
Hôm qua, trên tàu hoả Nà Sầm xuống Đồng Đăng, lúc tàu qua Cốc Nam,
Thụ ra cửa toa nhìn sang rồi rỉ tai Viết:
– Quãng này sang bên kia có mấy bước chân thôi, Viết ạ.
Viết ngước mắt, khẽ hỏi lại Thụ:
– Đi à?
Lúc ấy, Thụ nhìn Viết, vẻ ngạc nhiên. Bởi vì chuyện cùng nhau đi Trung
Quốc tìm cách mệnh, đối với hai đứa, đương như người đã co cẳngảy vượt
bờ rào. Câu hỏi chứng tỏ Viết có chiều ngần ngại. Mới biết, hiểu được lòng
người thật khó. Nhưng nghĩ thế, Thụ chỉ thấy càng thương Viết. Thụ nhẹ
nhàng đáp lại không biết là trả lời câu nào của Viết nhưng không một vẻ
khó chịu:
– Biết thế, nhưng mà chúng mình lỡ hẹn ở Nà Sầm rồi.
Hai người lại trở về Nhân Lý.
Từ lúc ấy, dọc đường, hầu như không ai nói một câu.
Thụ đoán Viết lưỡng lự, Thụ không muốn ép. Mẹ Viết già yếu. Bố thì
nghiện, càng ngày càng nghèo. Mấy năm nay, hễ ở trong xóm nghe tiếng
https://thuviensach.vn
trống tùng tùng ngoài Đon Đình thì mọi người đoán đấy là trống báo có
một đám ruộng nhà Viết lại sắp phải đi sang cửa nhà khác[3]. Mà đúng như
thế. Thụ thương Viết lắm.
Nhưng Viết chưa hiểu nổi rằng: “Phải đánh thằng Tây, lấy lại được nước,
phải vật cổ bọn vua quan lính tráng kia xuống thì mới phá được cái đau đớn
ấy”, muốn thế, hãy đi tìm cách mệnh. Mỗi lần ở thị xã về, Thụ đã bàn bạc
nhiều, nhưng Viết lúc thì hăng muốn đi ngay, lúc thì lặng im, Viết sợ, Viết
hơi chập chờn. Hôm trước, Viết đã mạnh bạo đi Nà Sầm với Thụ. Nếu cứ
sang ngay Cốc Nam lúc ấy, chắc Viết đi luôn. Nhưng đến một người đi chợ
cũng không gặp. Nếu có ai, chỉ hỏi thăm đến được Bản Đảy là đi ngay thôi.
Nhưng rồi Viết lại trù trừ. Thụ muốn kêu lên: “Viết ơi! Mày nghĩ thế nào?”
Ấy là lúc Thụ càng tha thiết nghĩ và thương và giận bạn.
Bây giờ thì Thụ đã nghĩ dứt được: Viết có cái khó. Viết chưa quyết tâm.
Thôi, để rồi cũng có khi. Không thể bắt buộc. Thụ định lần này không rủ
Viết
Một lúc, Thụ nói:
– Ừ đến tháng sau thì cưới chị Dụ mình, rồi đến Tết. Mình đã nói với chị
ấy, nếu em về kịp ăn cưới chị thì may, bằng không thì khi nào em về được,
em về. Lần lữa rồi lại đến Tết, không được. Bây giờ Thụ đi, Viết ạ.
Viết hỏi nhanh:
– Đi bây giờ a?
Thụ không đáp thẳng câu hỏi, mà trông ra ngoài khe vách, nói:
– Gà gáy sang canh lâu rồi. Thế là chúng mình thức gần suốt đêm.
– Sao bảo đợi có hẹn ở Nà Sầm về rồi mới đi?
– Không đợi nữa. Nhưng lần này Viết hãy cứ ở nhà, để mình sang bên ấy
nghe tình hình ra sao đã.
Viết “à” một tiếng nhỏ, như thở dài. Vẻ vừa tiếc, vừa ngượng. Và Viết
cúi mặt, không nhìn Thụ.
https://thuviensach.vn
Lúc ấy, một cơn ho thiếu thuốc phiện như bị sặc, kéo đến, dựng bố Viết ở
giường bên rũ rượi ngồi dậy. Rồi tiếng ho cứ thúng thắng mãi của người già
trong đêm khuya càng làm cho Viết thấy mình buồn hẳn đi. Thụ không biết
được mắt Viết đã ướt. Trong bóng tối, Viết để mặc cho nước mắt chảy ướt
trên mặt.
Thụ bước đến bên giường bố Viết.
– Chào bác.
– Cháu đi à?
– Cháu phải đi ra Đồng Đăng cho kịp tàu xuôi sớm.
– Cháu đi đâu?
– Ch đã xin được chân ký ga ở dưới xuôi.
Ông cụ lại ho. Ông cứ trừng mắt nhìn Thụ, rồi hổn hển nói:
– Cháu ơi! Đến ngày cháu về chắc tao chẳng còn sống, tao biết rồi.
– Không, bác vẫn khoẻ, cháu mong bác vẫn bình yên khoẻ mạnh.
Ông cụ lắc đầu.
– Cái chân này xưa nay của mình mà bây giờ mình cũng không sai bảo
được nó đi đâu nữa rồi, khó quá.
Viết và Thụ ra đầu hè. Thụ lại nói: “Để mình đi nghe tình hình cách
mệnh ra sao, khi có tin về thì đi cùng nhau đấy”. Rồi Thụ bước vào trong
làn sương mù có lẫn trăng suông phủ xuống dưới thung, sang tận dải núi
bên xóm Bó Lào. Nét núi mờ dường như kéo dài ra.
Viết bàng hoàng quay vào, ngồi một mình trước đống lửa vạc. Ông cụ
khập khiễng bước sang bên vách, khuân hai cây củi mới đến, đặt xuống
khơi lại cái bếp.
Bấy giờ, có ánh lửa, người ngồi bếp mới có bóng. Bỗng nhiên, ông cụ
đăm đăm nhìn bóng mình rồi nói hổn hển và sôi nổi, trong tiếng lép bép củi
mới nổ.
– Con ạ, ngày trưóc, cái khi nhà ta còn ở trên Đồng Đăng, đã có nhiều
lần vào lúc nửa đêm thế này, tao đưa các ông cách mệnh đi Long Châu, ờ,
https://thuviensach.vn
cũng vào những tháng rét sắp Tết này... Các ông nói các ông đã theo cách
mệnh đánh Tây rồi bây giờ xuống thuyền ra bể đi tìm cách mệnh ở bên
Nhật Bản và tận những đâu, nhiều nơi nữa. Tao biết cả, tao hỏi thế thôi chứ
tao biết cái chí thằng Thụ...
Viết nhìn bố, thấy lạ hẳn. Từ khi lớn, Viết chỉ thấy bố ốm, bố gầy yếu
mãi đi. Viết chỉ thấy quanh năm bố đi cày, đi trèo hồi thuê - hồ như không
biết một việc gì khác ở đời và không nói ra những câu như thế bao giờ.
Nhưng thế là bố đã biết cả.
Viết khóc thành tiếng, như khi còn bé. Viết muốn chạy ngay theo Thụ.
Viết gục đầu xuống, ôm hai tay lên mặt.
Đêm ấy, Thụ đi tắt đường sang châu Điềm He. Vừa hay, tảng sáng thì tới
Bản Hẻo.
Đi suốt đêm ngoài sương, nhạt hết hơi người, vào đến trong xóm, con
chó cũng không biết. Không một tiếng chó cắn. Thụ cứ tự nhiên vào đi
quanh dưới gầm sàn nhà Chi. Đến đúng chỗ giường Chi nằm - Thụ đã biết
trước, Thụ khẽ gõ ngón tay vào cái xà gỗ. Lập tức, nghe tiếng chân động
sàn ngay. Như cả đêm qua Chi vẫn thức đợi. Đúng là Chi vẫn thức đợi Thụ
thật. Thụ rón rén đến để đợi Chi ở bên cái chân thang nhỏ đằng sau bếp.
Chi đã xuống đứng đấy, nói:
– Đợi mấy hôm rồi!
Thụ cười - miệng cười mở rộng. Thụ cảm thấy mọi việc trôi chảy. Những
suy nghĩ về Viết trong đêm qua làm bận tâm Thụ, đến bây giờ gặp Chi, mới
thấy lòng thanh thản và bồn chồn, sôi nổi hẳn lên, sẵn sàng... Hai người
cùng nghĩ như nhau:
– Đi.
Nói đến đi tìm cách mệnh, đi làm cách mệnh, bao giờ hai người cũng
tưởng ra một đoàn tàu hỏa đương vun vút lao, trên mình đoàn tàu oai hùng
lấp lánh ánh sáng bóng cây và bóng nắng liên liến đưa qua các cửa toa
những hình ảnh chuyển động, rực rỡ, những cái gì thay đổi. Tiếng còi tàu
nổi lên, xé ngang mọi băn khoăn và luôn luôn thúc giục người đi xa.
https://thuviensach.vn
Thụ và Chi đi. Người vượt biên giới hay chọn đi vào ngày gần Tết, cũng
có ý riêng. Áp Tết, cướp cũng vãn, khỏi gặp trắc trở, lính tuần thì có vẻ trễ
tràng. Đến lính tráng cũng bỏ tuần Phong, còn phải chạy chợ, lo cho miếng
ăn ngày mừng năm mới.
Đưòng lên biên giới cứ thuốn sâu vào những thung lũng nhỏ, mỗi lúc
một khép lại giữa hai gò núi. Ngọn đá lô xô như ai vừa giơ lên những ngón
tay thật cao, nhọn hoắt, tưởng gió thổi đương lung lay.
Hai người tạt sau núi, chỗ Cốc Nam. Cốc Nam chỉ cách Đồng Đăng chưa
đầy hai ki-lô-mét. Chỉ một bước chân đã đến đất Trung Quốc. Tuy nhiên,
Thụ cảm động, nghĩ: ta đang đi trên con đường tìm cách mệnh. Bởi vì, tuy
chỉ mới một bước chân, nhưng trong lòng đã nhất quyết và thấy khác hẳn
trước khi đi.
***
Các làng đương vào những ngày áp Tết.
Gặt xong, mọi công nợ bắt đầu trang trải. Trước nhất, thóc nhà khó vào
yên bồ nhà giàu. Trong làng, vẻ Tết đã dần dần hiện ra. Chưa phải chuyện
yên vui, mà những lo lắng đến trước. Con ngựa, là cái chân giúp người
kiếm ra tiền. Tết đến, nhà ai có ngựa thì phải buộc cái cây tiền ấy vào trong
tàu rồi đành ngày ngày đi cắt cỏ về cho nó ăn. Vào tháng củ mật này, con
ngựa chỉ chót quá chân gặm cỏ xế xuống chỗ ruộng thấp, cái đuôi ve vẩy
vừa khuất, đã có thể bị người ta dắt biến vào rừng. Người ăn trộm lúc nào
cũng vơ vẩn đứng sẵn đầu ruộng. Chẳng thế mà cứ sắp Tết, cả đến những
con bò, con trâu cũng biết sợ, chịu nằm yên trong chuồng đầu nhà và dưới
sàn. Người ăn trộm đi rình bắt trâu bò, bắt lợn cả đêm.
Tết đã đến.
Người buôn bán vào các làng bán rượu, bán muối, bán miến. Những
người đi gánh hàng thuê, quần xắn, cái nón “tờ” ngật ra đằng sau. Cái đầu
trọc nhấp nhô giữa hai chiếc túi chàm lớn đựng hàng. Bàn chân vấp đá, bật
ra bùn và máu. Người gánh hàng thuê vẫn ngày ngày lom khom xuống dốc
lũng, cố gắng, hòng kiếm ít lãi ăn Tết.
https://thuviensach.vn
Tết đã đến.
Các chợ Ải Khẩu, chợ Lũng Vài bên Trung Quốc hay chợ Nà Sầm, chợ
Đồng Đăng, chợ Kỳ Lừa bên này, đã thấy người các làng về sắm Tết, chơi
Tết đông hơn phiên chợ thường. Lại thấy về từng bọn trai gái ngồi trong
các cầu hát đối hết đêm đến sáng, hát sang suốt cả ngày chợ. Cái vui cái lo
của con người cứ chen lấn, quấn quýt cùng về với nhau khi năm hết Tết
đến.
Tết đã đến.
Vào dạo áp Tết mỗi năm, trên những chuyến tàu đường Lạng Sơn, người
sẵn tiền hay về xuôi sắm Tết đông. Thoạt nom cũng biết ngay người thị trấn
đường ngược. Thanh niên đi giày tây gan gà có cổ, áo lương hay dạ Mông
Tự, đầu chít khăn lượt mốt mới, khá thịnh hành. Người đứng tuổi thì giày
ban, giày Gia Định, dưới mũi để lún phún cụm ria Hoa Kỳ. Có người xốc
vác và mới hơn nữa, mặc bộ tây ka-ki vàng, như tay thầu khoán hoặc nhà
đoan. Mấy năm nay đời sống thành thị tràn ngập mọi nơi, chỉ xem cách ăn
mặc của người ta, khó phân biệt xuôi hay ngược.
Thế vậy. Trên những con tàu xuôi ngược, ai mà biết người xuôi lên hay
người Lạng Sơn xuống. Tuy nhiên, nếu để ý kĩ, dù áo quần tương tự vậy,
nhưng vẻ lặng lẽ và trầm ngâm ở một số người, cũng dễ thấy là lạ. Thường,
những người ấy ngồi yên một chỗ, nhưng cứ ở đầu hay cuối toa, trên con
tàu chật ních. Con mắt nhìn thoáng, rất nhanh. Có khi đeo kính rợp. Những
người vẻ tương tự thế chỉ thỉnh thoảng gặp trên tàu Lạng Sơn. Tuy nhiên,
cái đó cũng bình thường. Người buôn các nơi đến Lạng Sơn và ra cửa khẩu
cũng nhiều.
Bấv giờ đương vào quãng một nghìn chín trăm hai mươi bảy (1927). Đất
nước lại trải những cơn bồng bột mới. Tiếng bom Sa Diện cứ vọng lại như
hòn đá ném xuống nước, vòng sóng động xa đi mãi, càng làm cho những
người thanh niên băn khoăn và thấy con đường cứu nước đương mở ra ở
khắp nơi. Họ càng cảm nỗi đau mất nước và cảnh nhục nhã chịu sự đàn áp
của thằng Tây và vua quan giày vò bao nhiêu thì lại càng khó thở trước
cuộc sống bé nhỏ và thảm hại, đầy vướng mắc, đè nặng. Các thế hệ tuổi trẻ
https://thuviensach.vn
đều thấy tự nhiên rằng làm đòi người không thể là thế này mà còn cần có
một ý nghĩa gì cao cả hơn. Trưóc hết, phải vùng lên, phải đi. Thế là họ đi.
Lên Lào. Sang Xiêm. Vào Sài Gòn. Xuống Hải Phòng. Họ đi khắp nơi. Họ
trốn xuống tàu biển. Họ rủ nhau tìm ra các vùng biên giới.
Các cụ già ở biên giới bây giờ còn kể chuyện cứ mỗi thời kỳ trong nước
có biến cố lại có từng đợt người ra đi qua Lạng Sơn. Hồi Đông Du, thấy
nhiều người già, nhiều ông đồ nho. Có những người đường trong, nói tiếng
Kinh kh
 





